|
QUỐC
HỘI KHOÁ II (1960-1964)
|
|
|
|
|
|
|
|
Ðặc điểm:
Quốc hội khoá II là Quốc hội
đầu tiên hoạt động hoàn toàn trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, dưới sự lãnh
đạo của Ðảng Lao động Việt Nam (Ðảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), nhân dân
Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là hoàn thành sự nghiệp
giải phóng dân tộc và tiến hành sự nghiệp xây dựng xã hội mới xã hội chủ
nghĩa: miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng miền Nam tiến hành
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Hoạt động của Quốc hội khoá II
đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và khôi phục
kinh tế ở miền Bắc, đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam; đã thực
thi những chính sách phù hợp về dân chủ, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân trong những điều kiện cực kỳ khó khăn; góp phần bảo đảm
hiệu lực và hiệu quả của chính quyền Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng đất nước ở miền Nam và đấu tranh thống
nhất Tổ quốc.
Kỳ họp thứ nhất:
Họp từ ngày 6 đến ngày 15-7-1960, tại Hà Nội, đã bầu:
Các văn bản pháp quy đã
thông qua: 6 luật; 9 pháp lệnh.
Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn: 4 hiệp ước-hiệp định song phương. Gồm:
· Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Lãnh sự giữa Việt Nam và Tiệp Khắc (phê chuẩn ngày 13-6-1963). · Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước Thương mại và Hàng hải giữa Việt Nam và Triều Tiên (phê chuẩn ngày 7-1-1963). · Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước Thương mại và Hàng hải giữa Việt Nam và Trung Hoa (phê chuẩn ngày 7-1-1963). · .Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Bưu chính và điện chính giữa Việt Nam và Cuba (phê chuẩn ngày 24-11-1963).
Số liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 8-5-1960
Tỉ lệ cử tri bỏ phiếu: 97,52%. Tổng số đại biểu: 453 Số đại biểu được bầu: 362 Số đại biểu khoá I miền Nam lưu nhiệm: 91
Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
|
QUỐC HỘI
KHOÁ III (1964-1971)
|
|
|
|
|
|
|
QUỐC HỘI KHOÁ IV (1971-1975)
|
|
|
(14/3/2007 4:01:04 PM)
|
|
|
|
|
Hoàn cảnh ra đời, đặc
điểm:
Quốc hội khoá IV đã tiếp tục
động viên quân và dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: ở miền Nam
tăng cường đấu tranh giải phóng dân tộc, ở miền Bắc kiên trì bảo vệ và xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, động viên
sức người, sức của cho tiền tuyến lớn đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ
tay sai.
Sau khi Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết, Quốc hội đã thông qua những biện pháp đấu tranh để bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định. Ðồng thời, Quốc hội đã quyết định những vấn đề quan trọng của Nhà nước ta nhằm nhanh chóng khắc phục hậu quả của chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, ổn định đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng; tiếp tục sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cùng đồng bào miền Nam hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quốc hội khoá IV là Quốc hội chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, kiên trì và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, là Quốc hội khôi phục kinh tế, hàn gắn những vết thương chiến tranh, chuẩn bị đưa đất nước tiến vào thời kỳ mới.
Kỳ họp thứ nhất: Họp từ ngày 6 đến 10-6-1971, tại Hà Nội, đã bầu:
Các văn bản pháp quy đã thông qua: 1 pháp lệnh.
· Pháp lệnh Quy định việc bảo vệ rừng (ban hành ngày 11-9-1972).
Số liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 11-4-1971
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 98,88% Tổng số đại biểu được bầu: 420
Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
|
QUỐC HỘI
KHOÁ V (1975-1976)
|
|
|
|
|
Hoàn cảnh ra đời, đặc
điểm:
Quốc
hội khoá V được bầu trong không khí vui mừng, phấn khởi, đất nước sạch bóng
quân xâm lược, nhân dân ta hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình. Quốc hội khoá
V, bắt đầu nhiệm kỳ giữa lúc nhân dân ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên cả nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội. Quốc hội khoá V là Quốc
hội đầu tiên của thời kỳ xây dựng đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp
hơn" như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Quốc hội khoá V thể hiện đầy đủ bản chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công nông. Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, động viên nhân dân ta thi đua xây dựng đất nước, củng cố lực lượng quốc phòng.. Quốc hội nhất trí phê chuẩn kết quả của Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc, thể hiện ý chí mạnh mẽ, nguyện vọng thiết tha và sự nhất trí cao của toàn dân tộc về vấn đề thống nhất Tổ quốc trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quốc hội quyết định kế hoạch Nhà nước năm 1976, năm thứ nhất của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, mở đầu thời kỳ xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.
Quốc
hội khoá V là quốc hội ngắn nhất, từ 4-1975 đến 4-1976, vì đã rút ngắn nhiệm
kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước thống
nhất.
Kỳ
họp thứ nhất: Họp từ ngày 3 đến 6-6-1975, tại Hà Nội, đã bầu:
Số liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 6-4-1975
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 98,26% Tổng số đại biểu được bầu: 424
Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
QUỐC
HỘI KHOÁ VI (1976-1981)
|
|
|
|
|
|
|
|
Hoàn
cảnh ra đời, đặc điểm:
Trong
điều kiện đất nước thống nhất, sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại là tổ
chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước-Quốc hội khoá
VI. Quốc hội đã quyết định những vấn đề quan trọng hàng đầu trong thời kỳ
phát triển mới của dân tộc; quyết định về đường lối, chính sách của Nhà nước
Việt Nam thống nhất; quyết định xây dựng Hiến pháp, về cơ cấu lãnh đạo của
Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới, bầu các cơ quan đó để điều hành công việc
chung của cả nước.
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới. Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định khoá Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25-4-1976 là Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Ðịnh là Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở đầu cho bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước. Quốc hội khoá VI đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyền trong điều kiện hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980.
Kỳ
họp thứ nhất, Quốc hội Khoá VI (Quốc hội chung cả nước): Họp từ ngày 24-6 đến
3-7-1976, tại Hà Nội, đã bầu:
Các
văn bản pháp quy đã thông qua: 1 Hiến pháp, 1 luật, 4 pháp lệnh
Các
hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn:
Số
liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 25-4-1976
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: hơn 23 triệu người Tổng số đại biểu được bầu: 492 Thành phần đại biểu Quốc hội:
Cán bộ
ở địa phương: 378
|
|
|
QUỐC HỘI
KHOÁ VII (1981-1987)
|
|
|
|
|
Hoàn
cảnh ra đời, đặc điểm:
Quốc hội khoá VII, được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở Hiến pháp năm 1980. Quốc hội đã phát huy vai trò cơ quan quyền lực Nhà
nước cao nhất của nhân dân trong việc củng cố và hoàn thiện chế độ làm chủ
tập thể; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hoá Hiến pháp,
từng bước xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo tiền đề để Nhà nước
thực hiện quản lý mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội theo đúng
Hiến pháp và pháp luật. Quốc hội đã thông qua một số Luật quan trọng như:
Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Luật tổ chức Toà án nhân dân.
Quốc hội khoá VII, là Quốc hội của thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, đã đẩy mạnh công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và việc quyết định các vấn đề quan trọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Xác định nguyên tắc, phương hướng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kỳ họp thứ nhất: Họp từ ngày 24-6 đến 4-7-1981,
tại Hà Nội, Quốc hội đã bầu: . Hội đồng Nhà nước, gồm 12 thành viên;
Các văn bản pháp quy đã thông qua: 10 luật và bộ
luật, 15 pháp lệnh.
Số liệu cơ bản:
Ngày
bầu cử: 26-4-1981
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 97,96% Tổng số đại biểu được bầu: 496 (Trong nhiệm kỳ khoá VII có 6 đại biểu từ trần, đã bầu bổ sung 6 đại biểu) Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
QUỐC
HỘI KHOÁ VIII (1987-1992)
|
|
|
|
|
|
|
|
Hoàn cảnh ra đời, đặc
điểm:
Quốc hội khoá VIII được bầu ra
và hoạt động trong giai đoạn bước ngoặt của đất nước, có trách nhiệm to lớn
góp phần thực hiện công cuộc đổi mới. Hoạt động lập hiến của Quốc hội khoá
VIII có nhiều thành tựu với 2 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980. Tại kỳ
họp lần thứ 11, tháng 4 năm 1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 - Hiến
pháp của thời kỳ đổi mới, phù hợp với thực tế của đất nước và xu thế tiến bộ
của thời đại trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của Việt Nam, đánh dấu
sự trưởng thành về trình độ lập hiến của nước ta. Quốc hội đã thực hiện sứ
mệnh cao cả mở đường cho công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta về mặt Nhà
nước. Tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các hoạt động nhằm thực hiện chức
năng, quyền hạn, nhiệm vụ do Hiến pháp quy định: Lập hiến, lập pháp, giám
sát, quyết định các vấn đề trọng đại về quốc kế-dân sinh, về đối nội và đối
ngoại, trong đó đặc biệt là hoạt động lập hiến và lập pháp. Trong Nhiệm kỳ
Quốc hội khoá VIII, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: Kinh tế
phát triển, văn hoá, giáo dục đạt được nhiều kết quả tốt. Việc xây dựng và
tăng cường Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân có bước phát triển
mới; quan hệ đối ngoại được mở rộng; quốc phòng an ninh được củng cố.
Kỳ họp thứ nhất: Họp từ ngày 17-6 đến 22-6-1987, tại Hà Nội, Quốc hội đã bầu: Hội đồng
Nhà nước, gồm 15 thành viên;
Các văn bản pháp quy đã thông qua: 1 Hiến pháp, 31 luật và bộ luật, 42 pháp lệnh.
Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn:
Số liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 19-4-1987 Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 98,75% Tổng số đại biểu được bầu: 496 Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
|
QUỐC HỘI
KHÓA IX (1992-1997)
|
|
|
|
|
|
|
|
Hoàn cảnh ra đời & đặc điểm:
Quốc hội khoá IX được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1992. Quốc hội khoá IX đã tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các hoạt động nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về lập pháp, về giám sát và về quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới. Quốc hội khoá IX tiếp tục thể chế hoá cương lĩnh và chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của Ðảng được đề ra từ Ðại hội Ðảng lần thứ VI và được Ðại hội Ðảng lần thứ VII khẳng định, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện. Quốc hội đã phát huy vai trò của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Kỳ
họp thứ nhất: Họp từ ngày 19-9 đến 8-10-1992, tại Hà Nội, Quốc hội đã
bầu:
Các
văn bản pháp quy đã thông qua: 39 luật và bộ luật, 41 pháp lệnh.
Các
định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn:
Số
liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 19-7-1992
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 99,12% (37.195.592 người) Tổng số đại biểu được bầu: 395 Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
|
|
|
|
|
|
QUỐC
HỘI KHÓA X (1997-2002)
|
|
|
|
|
|
|
|
I.
Hoàn cảnh ra đời & đặc điểm:
Quốc hội khoá X là Quốc hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quốc hội khoá X có trọng trách tiếp tục thể chế hoá cương lĩnh và chiến lược của Ðảng; cụ thể hoá đường lối, chính sách mà Ðại hội Ðảng lần thứ VIII và lần thứ IX đề ra. Trong 5 năm qua, Quốc hội khoá X tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức của Quốc hội và đổi mới hoạt động lập pháp: Phân định phạm vi thẩm quyền lập pháp của Quốc hội, lập và quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đổi mới thủ tục, trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi các Nghị quyết Ðại hội lần thứ VIII và Ðại hội lần thứ IX của Ðảng, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Các luật, pháp lệnh Quốc hội thông qua đều đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vấn đề bức xúc của cuộc sống và công cuộc phát triển đất nước, đảm bảo tính đồng bộ, hợp hiến, hợp pháp. Quốc hội đã chú trọng xây dựng và ban hành các luật, pháp lệnh về lĩnh vực kinh tế, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế. Quốc hội khoá X tiến hành giám sát khá toàn diện việc thực hiện các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ 5 năm, nhiệm vụ hàng năm và nhiều vấn đề quan trọng khác. Quốc hội đã thực hiện hình thức giám sát đi sâu khảo sát theo chuyên đề; kết hợp giữa việc giám sát tại kỳ họp với các hoạt động giám sát trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; giữa việc nghe báo cáo với việc cử đoàn đi địa phương, cơ sở làm việc với các Bộ, ngành, tổng công ty, nên hiệu quả hoạt động giám sát từng bước được nâng lên. Quốc hội đã xem xét, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và các hoạt động khác của công dân; dự toán ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước. Quốc hội khoá X đã đóng góp vào thành tựu của công cuộc đổi mới, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
II. Kỳ họp thứ nhất: Họp từ ngày
18-9 đến 29-9-1997, tại Hà Nội, Quốc hội đã bầu:
III. Các văn bản pháp quy đã thông qua:
IV. Các hiệp định, hiệp ước, công ước
quốc tế đã phê chuẩn:
V. Số liệu cơ bản:
Ngày bầu cử: 20-7-1997
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 99,59% (43.493.661 người). Tổng số đại biểu được bầu: 450 Thành phần đại biểu Quốc hội:
|
|
QUỐC HỐI
KHÓA XI (2002-2007)
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
I. Hoàn cảnh ra đời & đặc điểm:
Quốc hội khóa XI là Quốc hội của thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Trong 5 năm qua, Quốc hội khoá XI tiếp tục xây
dựng, hoàn thiện tổ chức của Quốc hội, đổi mới mạnh mẽ hoạt động lập pháp.
Tính đến tháng 4 năm 2007, Quốc hội khóa XI đã ban hành 84 luật, bộ
luật, 68 nghị quyết; Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành 31 pháp lệnh, đưa
số lượng văn bản pháp luật được thông qua trong nhiệm kỳ tăng lên rất nhiều
so với trước đây. Nội dung các vấn đề được quy định trong các đạo luật đã cơ
bản bao quát các lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo
dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đến tổ chức bộ máy
nhà nước, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đặc
biệt, Quốc hội đã dành thời gian, công sức để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới
các đạo luật kinh tế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho quá trình đổi mới kinh tế,
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO).
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI là nhiều dự án pháp lệnh đã được Ủy
ban thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội nâng lên thành các dự án luật và đã
được Quốc hội chấp thuận xem xét, thông qua. Điều này là góp phần giảm dần
việc ban hành pháp lệnh, tăng cường ban hành luật nhằm đề cao vai trò của
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp ở nước ta.
Điểm mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nhiệm kỳ XI là đã có
Ủy ban của Quốc hội chủ động đề xuất và chủ trì soạn thảo dự án luật, trong
đó có dự án đã trình Quốc hội thông qua, có dự án đang trong quá trình chuẩn
bị. Điều này mở ra khả năng các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội
có thể đề xuất, thực hiện việc soạn thảo và trình dự án luật ngày càng nhiều
hơn trong thời gian tới.
Cũng trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã áp dụng kỹ thuật lập pháp mới là
ban hành một luật để sửa đổi, bổ sung đồng thời các quy định trong các đạo
luật khác có liên quan (kỹ thuật một luật sửa nhiều luật). Cụ thể là Quốc hội
đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Cách làm mới này góp phần đáp ứng kịp thời
yêu cầu của cuộc sống, tiết kiệm thời gian, đơn giản thủ tục mà vẫn bảo đảm
chất lượng của dự án luật.
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã xem xét, quyết định phương án xây
dựng công trình thuỷ điện Sơn La, một công trình rất lớn, tác động trực tiếp
đến công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đời sống của nhân
dân.
Từ năm 2003, thực hiện quy định của Luật ngân sách nhà nước mới, Quốc
hội đã thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2004 và Nghị
quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2004. Đây là lần đầu tiên Quốc hội
trực tiếp thực hiện phân bổ ngân sách trung ương và mức bổ sung từ ngân sách
trung ương cho ngân sách địa phương.
Nhiệm kỳ qua, Quốc hội cũng đã ban hành nhiều quyết định quan trọng
khác như Nghị quyết về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2003; Nghị
quyết về giáo dục; nghị quyết về chủ trương xây dựng đường Hồ Chí Minh; Nghị
quyết về tập trung chỉ đạo xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất; Nghị
quyết về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục điạ của hai nước trong vùng vịnh Bắc Bộ”; Hiệp ước giữa
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia
bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985; phê chuẩn Nghị định thư về
việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ khoá XI Quốc hội đã Luật hoạt động giám sát
của Quốc hội năm 2003, luật này là cơ sở pháp lý quan trọng cụ thể hóa chức
năng giám sát tối cao của Quốc hội, nhiệm vụ giám sát việc thi hành Hiến
pháp, pháp luật của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại
biểu Quốc hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã được tăng cường và đẩy mạnh
nhất là sau khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội được ban hành, tạo thêm
cơ sở pháp lý quan trọng để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội thực hiện
quyền giám sát chủ động, tích cực, đầy đủ và có nề nếp hơn theo chương trình,
kế hoạch. Nội dung giám sát tập trung vào nhiều vấn đề bức xúc trong cuộc
sống, bao quát hầu hết các lĩnh vực từ kinh tế-ngân sách, văn hóa, xã hội,
giáo dục, khoa học-công nghệ, quốc phòng-an ninh đến đối ngoại, công tác tư
pháp. Quốc hội đã tăng cường giám sát tối cao tại kỳ họp về các chuyên đề. Cụ
thể là trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách Nhà nước, Quốc hội đã tập trung
giám sát việc triển khai thực hiện nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ và về
ngân sách Nhà nước, trong đó có những vấn đề nóng bỏng, cấp bách nổi lên như
thu chi ngân sách, các biện pháp tăng thu, giảm chi, giảm bội chi ngân sách,
kiềm chế lạm phát, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đầu tư vốn cho phát triển,
hoạt động của ngân hàng, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tình trạng nhập siêu
quá lớn; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, chống thất thoát trong đầu tư
xây dựng cơ bản; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc triển khai thực hiện
dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng...
Hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa XI tiếp tục được tăng cường cả
trong quan hệ song phương và tại các diễn đàn nghị viện đa phương. Kết quả
nổi bật là hoạt động đối ngoại đã củng cố, phát triển quan hệ với các nước
láng giềng, các nước ASEAN và Đông Bắc Á, tạo môi trường quốc tế thuận lợi
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh quan hệ với Hoa kỳ, nghị
viện châu Âu, nghị viện nhiều nước thuộc liên minh châu Âu, đưa các mối quan
hệ này đi vào thực chất, phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu; khai thông
và phát triển quan hệ với các nước thuộc khu vực châu Phi và các nước Trung,
Nam Mỹ theo chủ trương chung của Nhà nước ta; củng cố và từng bước đẩy mạnh
quan hệ truyền thống với các nước Trung Đông Âu. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa
XI, tổng cộng có 150 Đoàn đại biểu nghị viện từ 40 nước thuộc nhiều khu vực
khác nhau trên thế giới đã đến thăm và làm việc với Quốc hội nước ta.
Các hoạt động đối ngoại nổi bật như lần đầu tiên, Quốc hội nước ta tổ
chức thành công Diễn đàn đối tác Nghị viện Á – Âu ASEP lần thứ ba
(ASEP3) tại thành phố Huế với sự tham dự của 120 đại biểu đến từ 7 nước ASEAN
và 15 nước thuộc liên minh châu Âu (EU), cùng 3 đối tác ASEAN là Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc. Tiếp đó, Quốc hội nước ta đã tổ chức thành công Diễn
đàn Nghị viện Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 13 (APPF13) tại
Quảng Ninh vào tháng 1 năm 2005 với sự tham gia của 275 nghị viên đến từ 23
nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tháng 9 năm 2005, Chủ tịch Quốc
hội Nguyễn Văn An đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam tham dự Hội nghị
toàn thế giới lần thứ hai những người đứng đầu các cơ quan lập pháp các nước
được tổ chức tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York. Trong năm
2006, Quốc hội nước ta đã tổ chức thành công Hội nghị liên minh Nghị viện thế
giới về quyền trẻ em tại Hà Nội (tháng 2-2006), Hội nghị chuyên đề về hợp tác
pháp lý trong phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh
(tháng 7/2006)...
Tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước ta đã phê chuẩn
Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoàn tất thủ tục pháp lý quan
trọng cuối cùng để nước ta chính thức trở thành thành viên của WTO. Đây là sự
kiện có ý nghĩa quan trọng khẳng định vị thế đất nước ta, thể hiện chính sách
đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã
phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế trên cả bình diện song phương, đa phương,
tích cực vận động các đối tác kết thúc đàm phán để Việt Nam gia nhập WTO.
Thành công của quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới nói riêng và thành tựu của hoạt động đối ngoại nói chung, như Chủ tịch
Quốc hội Nguyễn Phú Trọng phát biểu nhân dịp Quốc hội phê chuẩn việc Việt Nam
gia nhập WTO là "kết quả phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, sự chỉ đạo sát sao của
Chính phủ, sự nỗ lực vượt bậc của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong hoạt
động lập pháp và lập quy, đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập quốc
tế”.
II. Kỳ họp thứ nhất: Họp từ ngày 19-7 đến ngày 12-8-2002, tại
Hà Nội, Quốc hội đã bầu:
Chủ tịch nước: Trần Ðức Lương,
Phó Chủ tịch nước: Trương Thị Mỹ Hoa.
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội gồm 13 thành viên.
Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Văn An; (Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn
Phú Trọng, được Quốc hội bầu ngày 26-6-2006 tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá
XI).
Thủ tướng Chính phủ: Phan Văn Khải.
Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Nguyễn Văn Hiện.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Hà Mạnh
Trí.
Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban
Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách; Uỷ ban Quốc phòng và An ninh; Uỷ ban
Văn hoá, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Uỷ ban Các vấn đề xã
hội; Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Uỷ ban Ðối ngoại.
Ðoàn Thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 11 người; Trưởng
đoàn thư ký: Bùi Ngọc Thanh
Ngày 17-3-2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết thành lập 3 cơ
quan chuyên môn là Ban Công tác lập pháp, Ban Công tác đại biểu và Ban Dân
nguyện trực thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tại kỳ họp thứ 11, kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XI (từ ngày
20-03 đến ngày 02-04 năm 2007), Quốc hội đã xem xét, thảo luận và thông qua
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội nhằm tạo điều
kiện để Quốc hội khóa XII tiếp tục đổi mới về tổ chức, nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động. Theo đó, Quốc
hội đã nhất trí về việc thành lập mới Uỷ ban pháp luật và Uỷ ban tư pháp của
Quốc hội trên cơ sở Uỷ ban pháp luật; thành lập mới Uỷ ban kinh tế và Uỷ ban
tài chính của Quốc hội trên cơ sở Uỷ ban kinh tế và ngân sách hiện nay.
III. Các văn bản pháp quy đã thông qua:
Các Luật được Quốc hội khoá XI thông qua:
Các Pháp
lệnh được Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua:
IV. Các
hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn:
V. Số liệu
cơ bản:
Ngày bầu cử: 19-5-2002
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 99,73% (49.768.515
người).
Tổng số đại biểu được bầu: 498
Cơ cấu
thành phần của Quốc hội:
+ Trong lĩnh vực doanh nghiệp: 5.02%
+ Nông dân:
1.20%
+ Trong các lực lượng vũ trang: 11.04%
+ Công nhân:
0.40%
+ Đại biểu tự ứng cử:
0.40%
+ Đại biểu chuyên trách:
23.69%
+ Đảng viên:
89.75%
+ Ngoài Đảng:
10.25%
+ Dân tộc thiểu số:
17.26%
+ Phụ nữ:
27.30%
+ Tôn giáo:
1.40%
---------------------------------------
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét