7/11/13

BOL IAO PHU TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO, PHÁT TRIỂN ĐẠO Ở GIÁO PHẬN KON TUM



  Thạc sĩ 
Hà Xuân Nguyên

Giáo phận Kon Tum hiện nay bao gồm hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, với hơn 180.000 tín đồ, 36 chức sắc (3 Giám mục - 2 đã nghĩ hưu và 34 linh mục). Toà Giám mục đóng tại Kon Tum.
Năm 2003, toàn giáo phận có 104.000 tín đồ dân tộc/724.000 đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm tỷ lệ 14,4 %). Nêu lên số liệu này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến  việc tại sao một cộng đồng dân tộc có tín ngưỡng đa thần, phong tục, tập quán, nếp sống, nếp nghĩ khác xa với văn hoá Công giáo lại có nhiều người đến với chúa Jê su như vậy ?

*   *
*
Lý giải về nguyên nhân phát triển và ảnh hưởng sâu rộng của đạo Công giáo trong đồng bào dân tộc thiểu số Gia Lai - Kon Tum hiện nay được sự quan tâm của nhiều người, cả về phía chính quyền và giáo hội. Có ý kiến cho rằng, qua hơn 150 năm tồn tại, đạo Công giáo đã chinh phục được tình cảm, tâm lý, phong tục, tập quán của người dân, nên điều đó không cần gì phải bàn luận; lại có ý kiến đi vào phân tích những mâu thuẫn về kinh tế, xã hội, văn hoá và sự bất bình đẳng trên thực tế để khẳng định rằng đây chính là mấu chốt của vấn đề để người dân tin theo Công giáo.
Thế nhưng, qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy rằng, ngoài sự nổ lực, thích nghi của chính giáo hội, giáo hội Công giáo ở giáo phận Kon Tum còn có một đội ngũ Bol Iao phu nòng cốt truyền đạo rất năng động, trong khi đó, cùng khu vực Tây nguyên, nhưng giáo phận Lâm Đồng, Đăk Lăk không có được.
Vậy Bol Iao phu là gì ? Vị trí, vai trò của Bol Iao phu trong hoạt động truyền giáo, phát triển đạo ở giáo phận Kon Tum ra sao ? Bài viết này bước đầu xin được đề cập đến những nội dung trên, và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định, mong quý vị thảo luận và cho ý kiến.
I. NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI TỔ CHỨC BOL IAO PHU
1. MÔI TRƯỜNG TRUYỀN GIÁO Ở TÂY NGUYÊN NHỮNG NĂM GIỮA THẾ KỶ XIX
Để tránh sự bắt đạo, cấm đạo của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn đương thời, từ năm 1842, các giáo sĩ ngoại quốc thuộc Hội thừa sai Pari Pháp (MEP) đến Tây nguyên để gây dựng cơ sở, phát triển đạo. Người đầu tiên khởi xướng "kế hoạch" này là Giám mục Stêphanô Quenok Thể, người thực hành là các cha cố: Combes (thường gọi là Cha Phêrô), Thầy Sáu Do (Cha Lành), Fontaine (Cha Hoàng), Dourisboure (Cha Ân). Lúc này, Kon Tum còn thuộc về tỉnh Bình Định(1), nhưng về mặt tôn giáo lại thuộc giáo phận Đàng trong.
Tại vùng dân tộc Ba na có vị "lãnh tụ" giàu có, uy tín được Triều đình Huế ban tặng phẩm hàm tên là Bok Kiơm (gọi là ông Khiêm) và ra chỉ thị cho Bok Kiơm phải bắt cho được các Trưởng giáo đồ đạo Gia Tô đang lén lút lên miền Tây nguyên truyền đạo giao nộp cho triều đình. Song, trong cuộc hội ngộ bất đắc dĩ lần đầu tiên giữa đoàn truyền giáo với Bok Kiơm vào năm 1850, thầy Sáu Do đã kết nghĩa anh em với Bok Kiơm, cũng nhờ vai trò của Bok Kiơm mà về sau việc truyền đạo của các Linh mục đem lại nhiều kết quả tốt.
Năm 1852, trung tâm truyền giáo đầu tiên Kon Xơ Xâm ra đời (nay thuộc huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Lai), tín đồ đầu tiên là một em bé người Xơ đăng ở làng Kon Trang trong cơn hấp hối (nay thuộc xã Đăk La - Đăk Hà - Kon Tum), tiếp đến là ông Hmur, chủ làng Ba na được làm phép rửa tội ngày 28/12/1853(2). Đó là cộng đồng đầu tiên của cơ sở truyền giáo Ba na Jơ lơng (đây là 1 nhóm tộc người Jơ lơng thuộc dân tộc Ba na). Sau Kon Xơ Xâm, làng Kon Xơ Lăng, Kon Pơ Nang (nay thuộc huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Lai), có nhiều người xin được tòng giáo.
Năm 1860, tại Bình Định, cuộc truy quét các Trưởng đạo Gia Tô trở nên gay gắt, Giám mục Stêphanô Quenok Thể bị bắt (và năm 1861 bị chết trong tù), nên mọi sự liên lạc giữa Tây nguyên và đồng bằng bị gián đoạn, nhưng không vì vậy mà việc truyền giáo bị chậm lại.
Các Linh mục ngoài việc truyền đạo, còn đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng, nhờ vậy người dân dần dần biết chăn nuôi trâu bò, gia súc, gia cầm khác; vận động dân làng bỏ bớt các tục lệ mê tín dị đoan; làm trung gian hoà giải cho những cuộc xung đột; công việc cải biên, sưu tầm chữ viết dân tộc được tiến hành (Linh mục Bê tìm hiểu về chữ viết người Ba na, Linh mục Ân người Xơ đăng).
Sau 35 năm nhìn lại, công sức giáo hội bỏ ra nhiều, nhưng kết quả xem ra thật khiêm nhường, chỉ có khoảng 1.200 tín đồ. Tổng kết việc truyền giáo giai đoạn 1850 - 1884, giáo hội cho rằng đây là thời kỳ: Gieo trong nước mắt.
Từ năm 1885 đến 1908, tuy có ít Linh mục (giáo hội gọi là thợ gặt) nhưng đã thu phục được thêm 94 làng tòng giáo gồm đủ các dân tộc: Jơ lơng, Ba na, Rơ ngao, Xơ đăng và Ja rai. Hơn nữa, đây cũng là giai đoạn các Linh mục vấp phải sự kháng cự không riêng gì từ phía người kinh, người thượng chưa theo đạo, mà cả với chính quyền thân Pháp đương thời. ông Robert, Đồn trưởng Đăk Psi  đã có  những biện pháp quá cứng nhắc, trấn áp các tín đồ người kinh, xúi dục đồng bào bỏ đạo... đã phần nào làm giảm uy tín của các vị thừa sai, cũng như của đạo Công giáo đang hiện diện tại Tây nguyên (vì mâu thuẫn này mà các Linh mục đã xúi dục tín đồ người Xơ đăng nổi dậy tấn công vào đồn Đăk Psi giết chết Robert vào năm 1901).
Ngày 14/01/1932, miền truyền giáo Tây nguyên được tài bồi bằng một nền pháp lý: Đức Giáo hoàng Piô XI loan báo quyết định thành lập giáo phận Kon Tum tách khỏi giáo phận Qui Nhơn bao gồm 3 tỉnh: Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum và một phần lãnh thổ của Atôpơ (Lào). Ngày 15/1/1933, Toà thánh ban sắc chỉ bổ nhiệm cha bề trên Jannin Phước là Giám mục tiên khởi, hiệu toà Gadara (1933 - 1940). Lúc này, đạo Công giáo có được 180 họ đạo, 21.000 giáo dân, 22 địa sở (giáo xứ) 121 nhà thờ, 27 linh mục. Qua thời kỳ Gieo trong nước mắt, nay Giáo hội Gặt trong vui mừng.
Tiếp đến, ngày 22/6/1967, Toà thánh Vaticăn có quyết định tách tỉnh Đăk Lăk ra khỏi giáo phận Kon Tum thành lập giáo phận Buôn Mê Thuột, giáo phận Kon Tum còn lại tỉnh Kon Tum và Gia Lai như ngày nay.
2. NGUYÊN NHÂN
a. Hội Thầy giảng - Yếu tố chủ quan tác động cho việc ra đời Bol Iao Phu
Tại giáo phận Đàng trong, Cha Đắc Lộ (Alechxandre de Rhodes) trong những lần đi kinh lý (1669 - 1676) đã tiên liệu trong các giai đoạn khó khăn không còn thừa sai, nên thiết lập và củng cố tổ chức "Hội Thầy giảng" gồm những người ưu tuyển được lựa chọn trong các số tín hữu đạo đức, tự nguyện phục vụ cộng đoàn(3). Tín hữu vào học phải giữ trọn 3 điều khấn: Không lập gia đình đến khi có các thừa sai trở lại; để tất cả tài sản làm quả chung; vâng lời bề trên và thực hành tinh thần truyền giáo.
Ngày 9/9/1659, Đức Thánh cha Alexanđrô VII công bố sắc lệnh thiết lập hai địa phận: Đàng ngoài (Bắc Hà) và Đàng trong (Nam Hà) trao cho Đức tân Giám mục: Phanxico Pallu đảm trách giáo phận Đàng ngoài, Lambert de la Mot đảm trách giáo phận Đàng trong. Đồng thời, "Bản Huấn thị của Công đồng địa phận tại Monita (tại thủ đô Xiêm La vào năm 1664) cũng nói đến việc cần thiết lập Ban Chức việc trong quản lý nội bộ họ đạo", trong đó nhấn mạnh: Các Linh mục thừa sai cấn biết việc, biết người, biết ngôn ngữ để có những ứng xử thích hợp khi truyền giáo trong vùng đồng bào dân tộc - ý tưởng này được các Linh mục thừa sai đẩy mạnh, ứng dụng vào những giai đoạn kế tiếp"(4).
Ban Chức việc được hình thành trên cơ sở hợp lại của lớp Thầy giảng địa phương, phần lớn là những người có gia đình, am hiểu giáo lý, gương mẫu, uy tín trong cộng đồng hợp lại lo việc đạo cho giáo dân. Đồng thời, đi theo các Linh mục thừa sai gồm các Thầy giảng lưu động thường vào các làng, bản để thăm viếng bệnh nhân, giảng dạy đạo, nếu cần thì có thể rửa tội tân tòng. Những người này hợp thành một hội riêng gọi là Hội Thầy giảng lưu động. Đây là tổ chức chính thức của Giáo hội Công giáo được ghi nhận trong Công đồng Monita. Căn cứ vào đặc điểm ở Tây nguyên lúc này, từ mô hình Hội Thầy giảng, BOL IAO PHU ra đời để thực hiện sứ mệnh truyền giáo trong vùng đồng bào dân tộc.
b. Yếu tố khách quan tác động
- Thứ nhất, về chủng tộc
Tây nguyên là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em chung sống từ bao đời này, mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán khác nhau, nhưng họ là những con người ngay thực, trọng lẽ phải, nghĩa khí, có tinh thần thượng võ, đoàn kết. ý thức đó đã trở thành niềm tin, lẽ sống  của mọi người. Khi các Linh mục thừa sai đến giảng đạo, tuy được sự ủng hộ của một số tín hữu là người dân tộc bản địa, trong đó có cả những người có thế lực, uy tín, địa vị như Bok Kiơm, nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ, chưa  đủ sức làm cho người dân "tâm phục, khẩu phục". Bức tường chủng tộc đã có sự ngăn cách, làm cản trở đến hoạt động mục vụ của các thừa sai. Do vậy, giáo hội mới nghĩ đến việc liên kết các Thầy giảng là người dân tộc lại để tạo thành sức mạnh đoàn kết thống kết, từng bước thâm nhập vào thực tế để công việc truyền giáo có hiệu quả hơn.
- Thứ hai, về yếu tố chính trị
Giai đoạn các giáo sĩ mở đạo lên Tây nguyên tình hình chính trị ở Việt Nam có nhiều biến động. Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia đang bị đe doạ, hoạt động của một số giáo sĩ có liên quan đến chính trị(5). Đây là những lý do để các Vua triều Nguyễn ra các Chỉ dụ cấm đạo, bắt đạo, trong hoàn cảnh đó các giáo sĩ tìm cách mở đường lên Tây nguyên vừa để lánh nạn, vừa có điều kiện khai thác vùng đất hứa đầy tiềm năng to lớn này(6).
Mặt khác, mục tiêu xâm chiếm Việt Nam của chủ nghĩa thực dân Pháp đặt ra càng lớn thì đây là cái cớ  hợp pháp để Pháp lợi dụng đạo Công giáo bằng cách can thiệp, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc giữa người không có đạo và người có đạo, giữa chính quyền với Công giáo được đẩy lên đỉnh điểm, thì các giáo sĩ thừa sai càng có điều kiện phát huy vai trò, ảnh hưởng của của mình. Sự song hành giữa tôn giáo (Công giáo) và chính trị, đã đem lại hệ luỵ cho đất nước Việt Nam phải chịu ách nô lệ.
Hơn nữa, giai đoạn này nội tình nước Pháp có nhiều diễn biến phức tạp. Việc thành lập khối liên minh cánh tả gồm các nhóm: Cộng hoà trung phái, cấp tiến, cấp tiến xã hội và xã hội chủ nghĩa theo chính sách bài tôn giáo. Dựa vào các phe cánh tả, các Hội viên Hội Tam Điểm phát động phong trào bôi nhọ các giáo sĩ thừa sai truyền giáo ở Đông Dương năm 1905 - 1907. Mục đích của việc làm này là để Chính phủ Pháp chuẩn bị một cuộc tấn công quy mô lớn đó là việc gây ra sự chia rẽ giữa người dân tộc vốn tôn trọng các thừa sai để nhằm xây dựng một chính quyền thân Pháp hơn thân với giáo hội. Ông Gúenot cũng như ông Sabatier vùng Đà Lạt theo chính sách không cho người kinh lên Tây nguyên và xúi dục cả người kinh Công giáo phản đối lại các linh mục bằng cách đòi đất nhà thờ lại vì đã xâm phạm đến đất tư. Uy tín của các giáo sĩ ít nhiều bị lên án, do vậy, vai trò người Iao phu cần phải được củng cố đề cao để giúp cho giáo hội rao giảng Tin mừng được thuận lợi hơn.
- Thứ ba, về yếu tố tôn giáo
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự phát triển, gia tăng tín đồ tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, ngoài nguyên nhân về kinh tế, văn hoá, xã hội, dân tộc, chính trị cùng với những mâu thuẫn xung đột về sự bất bình đẳng trên thực tế, còn phải nói đến hệ thống tín ngưỡng cổ truyền bị lung lay, nên có một số bộ phận người dân tìm đến với tôn giáo. Trước yêu cầu đòi hỏi đó, các Linh mục không thể có mặt hết trên từng xứ, họ đạo, để lo việc chăm sóc phần hồn cho giáo dân, thì vai trò của các Iao phu cần được đề cao với trách nhiệm nặng nề hơn, vinh quang hơn.
Như vậy, BOL IAO PHU ra đời, phát triển là sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó có sự tác động của điều kiện bên ngoài và nhu cầu thực tế bên trong. Đây là sự năng động, sáng tạo của giáo hội, biết kết hợp các giá trị văn hoá tinh tuý của đồng bào các dân tộc thiểu số với văn hoá Công giáo, để tìm ra một hướng đi, một cơ cấu tổ chức thích hợp với đặc điểm tâm lý dân tộc nhằm đem lại hiệu quả cao trong công cuộc truyền giáo.
II. VỀ TỔ CHỨC BOL IAO PHU
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BOL IAO PHU
Tiếng Ba na: Bol là hộ, tập thể, cộng đoàn; Iao là dạy; Phu là người. Bol Iao phuHội của những người dạy giáo lý. Bol Iao phu khi phiên âm của tiếng kinh và đọc tắt có nghĩa là Hội Giáo phu.
Iao phu gọi là Thầy giảng (giảng dạy giáo lý) và được dân làng gọi với cái tên thân mật: Chú hoặc Chú Giáo phu. Iao phu được đào tạo chính quy tại trường Quenok gọi là Iao phu trường, có 4 cấp:
- Iao phu tập sự
- Iao phu cấp 2
- Iao phu cấp 1
- Iao phu Thầy
          Để được làm Iao phu, khi học xong, người đó sẽ viết 3 bản cam đoan đi truyền đạo cho mọi người (một bản Iao phu giữ, 1 bản gởi cho Đức cha và 1 bản để tại chân dung Đức mẹ trong nhà trường). Nội dung tóm tắt là:
Phía tôi...., trước tiên xin cảm ơn Đức Chúa trời có lòng thương tôi vô bờ bến, được Đức Chúa trời cho chúng tôi trở thành Iao phu cấp...... Tôi tự giác cam đoan sẽ cố gắng hơn nữa trở thành Iao phu cấp.... đúng với tinh thần đức Chúa trời thật sự, luôn giữ Luật Iao phu thật tốt, luôn phục tùng Đức cha, luôn siêng năng truyền đạo.... Tôi xin hứa sẽ giữ vững những lời đã cam đoan trên. Bản cam đoan này được Iao phu  đọc tại lúc cấm phòng trước mình thánh Chúa. Tại đây, Đức cha lãnh đạo sẽ trao quyết định cho các Iao phu gia nhập đoàn (nếu khác đoàn thì khác người lãnh đạo), đồng thời, các Iao phu phải cùng tuân giữ 4 điều sau:
          1. Đọc kinh xin Thiên chúa phù hộ
          2. Được Đức cha dạy bảo
          3. Học chữ, học Luật (Luật Iao phu)
          4. Mỗi tháng tập trung về với Đức cha 1 lần để được giao nhiệm vụ
          5. Mỗi năm cấm phòng 1 lần
Iao phu mới ra trường đi truyền đạo gọi là Iao phu tập sự, (những trường hợp này được Đức cha phân công cùng đi với các Iao phu cấp 1 hoặc cấp 2 để học hỏi thêm kinh nghiệm). Nếu làm tốt, sau 3 năm, Iao phu đó sẽ viết lại bản cam đoan như lần gia nhập đoàn đầu tiên, để Đức cha xem xét, phong lên Iao phu cấp 2, cũng sau đó 3 năm nữa, viết lại bản cam đoan để Đức cha xem xét phong lên Iao phu cấp 1.
Riêng đối với Iao phu Thầy, sẽ do chính Đức cha đi tìm chọn, tham khảo ý kiến của cha sở phụ trách và tất cả Iao phu thầy cũ. Nếu người Iao phu cấp 1 đó có đạo hạnh, làm tốt công việc, được Đức cha phong làm Iao phu Thầy. Iao phu Thầy khi truyền đạo phải cam đoan thêm 4 điều sau:
1. Làm người trợ giúp trung thành cho các Linh mục và giữ tốt Luật Iao phu
2. Tìm cách nêu cao ảnh hưởng của Đức chúa trời, sẽ siêng năng truyền đạo, chịu khó đi truyền đạo bất kể nơi nào theo lời chỉ bảo của Đức cha.
3. Thầy Iao phu phải làm gương cho các Iao phu, cam đoan sẽ cố gắng vui với các Iao phu, trông coi các Iao phu, nếu Iao phu nào kém sẽ dạy bảo, nếu Iao phu nào gặp khó khăn sẽ giúp đỡ.
4. Cam đoan không uống rượu say, khi làng có tổ chức uống rượu thì không uống "cang"(7).
Sau một thời gian truyền đạo, các Iao phu sẽ già, mất sức khoẻ, được Đức cha cho nghỉ, nên gọi là Iao phu Kơn. Thiên chức Iao phu được giữ suốt đời với họ.
Các Iao phu khi truyền đạo được Đức cha hỗ trợ kinh phí, số tiền nhiều hay ít phụ thuộc vào cấp bậc và kết quả công việc. Đối với Iao phu Kơn vẫn có tiền trợ cấp nhưng ít hơn các Iao phu truyền đạo.
Định kỳ 6 tháng, các Iao phu sẽ gởi báo cáo bằng văn bản Biên - Công(8) cho người lãnh đạo đoàn trình bày rõ mọi sự việc, nếu có vấn đề gì cần dặn dò thêm thì người lãnh đạo đoàn sẽ gởi thư đến cho Iao phu.
Trách nhiệm của người lãnh đạo đoàn Iao phu phải theo dõi các Iao phu có làm tốt nhiệm vụ, giữ nghiêm kỷ luật và trung thành với Đức cha không. Chỉ có người lãnh đạo đoàn mới có quyền quyết định cho Iao phu vào đoàn nếu họ đủ điều kiện hoặc cho ra khỏi đoàn khi họ vi phạm kỷ luật.
Từ năm 1908 trở về trước, tuy chưa có tên gọi Iao phu chính thức, nhưng các thầy giảng người dân tộc lưu động đã giúp các Linh mục thực hiện tốt nhiệm vụ của mình (như cha Bonal Bổn truyền giáo vào các làng Đăk Ang Ioh, Đăk Bokdel, Pơlei Jơdrập, Pơlei Ia Klâu, Pơlei Kroong Kơtu - những Thầy giảng này ít nhiều có hiểu biết, kinh nghiệm, sau này gọi là Iao phu làng). Từ năm 1908 trở đi, trường Quenok ra đời, giáo hội đã có được một lực lượng đội ngũ Iao phu trường thay thế. Vì vậy, có một số trường hợp đặc cách, Iao phu làng được giới thiệu vào học trường Quenok hay chuyển qua làm Câu, Biện ở giáo xứ. Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh các Iao phu trường chịu sự điều khiển của cha bề trên, hoạt động truyền giáo ở tầm rộng hơn, tại mỗi giáo xứ vẫn đào tạo đội ngũ Iao phu làng chuyên lo việc đạo trong giáo xứ mình.
Bol Iao phu (Hội Giáo phu) có Luật Iao phu điều chỉnh. Lúc đầu, nội quy về trường Iao phu được soạn thảo, thí nghiệm và được Cha Kemlim, Tổng Đại diện cho in vào tháng 6/1919. Sau gần 50 năm, Luật Iao phu ra đời được Đức cha Phaolô Kim, Giám mục Giáo phận thông qua ngày 30/12/1959 với tựa đề là LUƠT DE IAO PHU (gọi là Luật Iao phu, hay cũng có thể gọi là Luật Giáo phu).
LUƠT DE IAO PHU viết bằng tiếng Ba na do nhà in BEATÔ QUENOT (Kon Tum) ấn hành năm 1961. Hiện tại, Toà Giám mục Kon Tum chưa phát hành bản dịch chính thức vì các lý do sau: Thứ nhất, Iao phu là người dân tộc, nên Luật này không nhất thiết phải dịch; Thứ hai, các chức sắc ở giáo phận Kon Tum đều biết tiếng Ba na.
          Luật này gồm 4 nội dung lớn với 39 phần nhỏ, quy định chi tiết cụ thể đối với từng trường hợp để người Iao phu thực hiện.
Hiện nay, tại mỗi họ đạo ở giáo phận Kon Tum phần lớn đều có Ban Chức việc hay còn gọi tên khác là Ban Hành giáo (như Hội đồng Giáo xứ ở họ đạo các nơi). Đối với họ đạo người kinh, Ban Chức việc gồm có: ông Câu và các ông Biện. Đối với họ đạo người dân tộc, Ban Chức việc ngoài ông Câu, ông Biện ra, còn có Iao phu.
Giữa Iao phu, Câu, Biện có những điểm chung và khác nhau là:
- Giống nhau: Là cùng lo việc đạo, giữ đạo cho giáo dân.
- Khác nhau:
+ Ông Câu: Là người có trách nhiệm lo trong giáo xứ, tổ chức cho giáo dân đọc kinh (nếu cha sở vắng) và quản lý các ông Biện. Nếu địa bàn đông giáo dân có thể có Câu chính, Câu phó. Đối với họ đạo người kinh, sau cha sở là ông Câu. Nhưng đối với họ đạo dân tộc, sau cha sở là Iao phu, rồi đến ông Câu.
+ Ông Biện:  Là người đứng đầu một xóm đạo nhỏ trong xứ đạo, lo tất cả mọi việc như: đau ốm, rửa tội.. hoặc giáo dân có vấn đề gì ông Biện sẽ đi báo với ông Câu hoặc cha sở biết.
+ Ông Iao phu: Là thành viên của Ban Chức việc, trong Ban Chức việc, nhưng đứng trên Ban Chức việc, có nhiệm vụ truyền đạo, dạy giáo lý cho mọi người.
Như vậy, Bol Iao phu trong hành chính đạo của Công giáo được xem như là tổ chức "chuyên môn" để hoạt động truyền giáo trong vùng đồng bào dân tộc. Hội này  không được quy định trong Giáo luật, mà do Giám mục giáo phận thành lập và trực tiếp điều hành.
Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao trong cùng khu vực, cùng môi trường truyền giáo, nhưng giáo phận Đăk Lăk, Lâm Đồng không có tổ chức này. Phải chăng, ở Lâm Đồng, Đăk Lăk điều kiện để ra đời một tổ chức truyền đạo người dân tộc chưa có hoặc chưa chín muồi ?
Tìm hiểu vấn đề trên, chúng tôi thấy rằng, năm 1842, Kon Tum là điểm đầu tiên của các giáo sĩ thừa sai mở đạo lên Tây nguyên, và sau 66 năm trải nghiệm thực tế, đến năm 1908, giáo hội mới thành lập trường Quenok để đào tào Iao phu, thì ở Lâm Đồng, Đăk Lăk ảnh hưởng của đạo Công giáo chưa lớn. Sau năm 1954, tín đồ Công giáo Bắc di cư ào ạt lên định cư tại Đăk Lăk, Lâm Đồng đã tạo nên cộng đồng Công giáo đông, tập trung. Khi Toà thánh quyết định thành lập giáo phận Đăk Lăk (ngày 22/6/1967, tách từ giáo phận Kon Tum), giáo phận Lâm Đồng(9) (ngày 27/11/1960, tách từ giáo phận Sài Gòn) về cơ bản, hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ đạo Công giáo ở Tây nguyên vượt qua giai đoạn thử thách, khó khăn, bước vào thể ổn định, đã có Linh mục phụ trách các xứ, nên yêu cầu cần có đội ngũ truyền đạo người dân tộc không trở thành vấn đề bức xúc, sống còn của giáo hội. Hơn nữa, việc lập ra tổ chức như Bol Iao phu do Giám mục giáo phận quyết định, nên vấn đề này còn phụ thuộc vào cá nhân Giám mục đương nhiệm.
2. HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA NGƯỜI IAO PHU
Khi được phân công truyền đạo tại làng xa, làng khác dân tộc, Iao phu phải chấp hành, có thể cùng đưa vợ, con, gia đình đến định cư ở làng mới để truyền đạo được thuận lợi hơn. Tại đây, giáo dân có nhiệm vụ giúp gia đình Iao phu sớm ổn định cuộc sống như: làm nhà, phát nương làm rẫy.... Nếu Iao phu đi truyền đạo một mình, giáo dân nơi đó phải có trách nhiệm góp tiền quả để nuôi. Iao phu ở trọ tại nhà nào thì cũng phải có trách nhiệm giúp gia đình đó biết sản xuất, bỏ đi các tệ nạn mê tín dị đoạn, các phong tục tập quán lạc hậu, lỗi thời, không thờ ngẫu tượng mà thờ Thiên chúa, tôn vinh Thiên chúa.
Muốn truyền đạo cho ai, Iao phu phải cầu nguyện xin Thiên chúa phù hộ. Khi truyền đạo Iao phu phải vui vẻ, làm đầy đủ tất cả những điều tốt đẹp trước mắt mọi người, không được phạm bất cứ sai lầm gì. Việc truyền đạo có thể tại nhà rông, nhà riêng, ở rẫy.... Iao phu không được truyền đạo tại nhà thờ nơi có mình thánh Chúa (vì nơi đó chỉ có cha cố mới được truyền đạo).
- Đối với thanh thiếu niên: Đây là những đối tượng được Thiên chúa yêu thương nhất. Iao phu phải làm quen với thanh thiếu niên, không để họ theo người hư hỏng làm những điều bậy bạ. Phương pháp tiến hành: Mỗi ngày chỉ truyền dạy một vấn đề. Cầu nguyện với thanh thiếu niên thật chậm, sau đó bảo họ học thuộc bài cầu nguyện. Tiếp đến là kể lại chuyện đã dạy, người kể phải rõ ràng, rành mạch, không được kể chuyện lâu quá nửa tiềng đồng hồ; có thể kể chuyện được minh hoạ bằng tranh ảnh. Trước khi ra về, Iao phu dặn thanh thiếu niên phải làm đúng mọi điều. Nếu nơi đó gần nhà thờ thì dẫn họ tới cầu nguyện trước mình thánh Chúa hay Maria. Hướng dẫn họ phải biết cách xưng tội, phải thẳng thắn, thật lòng, chỉ cho họ thấy thân xác của Jê su ở trong bánh thánh. Đặc biệt, nếu thấy đứa trẻ nào thông minh, lanh lợi thì Iao phu nên đưa họ đến giới thiệu với cha cố để cha cố có muốn đưa người ấy trở thành học sinh của trường Quenok không.
- Đối với người già: Iao phu phải với tinh thần giúp đỡ thật sự, vận động họ nên bỏ các phong tục tập quán cũ, cố thuyết phục, chỉ cho những người già hiểu rằng chỉ có một Thiên chúa tất cả cho mọi người, nên mạnh dạn tranh luận với  người già, luôn trả lời đúng mọi câu hỏi để làm họ đuối lý bỏ đi.
- Đối với người bệnh: Iao phu đến thăm viếng họ thường xuyên, nếu chưa lo chu toàn việc này thì không nên đi rừng, đi rẫy. Người bệnh chưa uống thuốc thì Iao phu phải đi tìm trước, khi bận việc quan trọng thì cử người khác đi thay. Nếu đó là trọng bệnh, Iao phu khuyên họ đi rửa tội hoặc cử người mời cha cố đến trước khi họ tắt thở. Khi cha cố đến rửa tội, Iao phu bảo mọi người tránh xa ra. Lúc cha cố quét nước phép cho người bệnh, Iao phu phải vui với bạn bè, giúp họ cầu nguyện xin Thiên chúa thương người đó. Trong trường hợp, không có cha cố, Iao phu phải rửa tội cho người bệnh. Khi người bệnh chết, Iao phu phải năng đến nhà cầu nguyện cho họ.
          - Khi đi thăm làng khác: Lúc đến thăm khách, Iao phu phải nêu cao tinh thần Thiên chúa khắp mọi nơi. Nếu đi thăm nơi xa, Iao phu phải cầu nguyện xin Maria giúp đỡ, xin phép cha cố và khi từ làng xa về phải đến chào cha cố. Trên đường đi, Iao phu cũng tranh thủ cầu nguyện, phải chăm chỉ làm việc để noi gương cho người dân noi theo. Nếu đến thăm làng chưa có đạo, Iao phu phải truyền đạo nơi đó, phải cố giữ vững ý thức với Thiên chúa, không được theo bạn bè đi chơi, uống rượu say, nói tục.... Nếu tại làng đến có nhà thờ, có mình thánh Chúa, Iao phu phấn khởi được đến thăm hỏi Jê su ở trong phòng lễ, thăm cha cố (nếu có) và Iao phu làng ấy.
3. NHỮNG ĐIỀU IAO PHU PHẢI GIỮ
- Trong một ngày, người Iao phu phải cầu nguyện trước khi làm bất cứ việc gì, (chẳng hạn: mỗi khi ăn, khi uống, hoặc muốn rời khỏi ché rượu người cũng phải cầu nguyện), nội dung kinh cầu nguyện bản thân Iao phu tự tìm lấy, không yêu cầu phải cầu nguyện dài.
- Iao phu không được nói mình không rỗi khi có tín đồ đến xem lễ, mà phải cùng cầu nguyện với họ.
- Iao phu phải thường xuyên xưng tội, khi xưng tội phải ngoan, thật thà khai hết mọi việc. Bởi xưng tội là như liều thuốc hiệu nghiệm, làm tăng thêm tinh thần, sức khoẻ cho linh hồn. Trong trường hợp cha cố ở xa, Iao phu có thể xưng tội khi họp đoàn hàng tháng, hoặc khi gặp cha cố bất cứ lúc nào, nhưng không được xưng tội trong lúc bực bội.
- Mỗi ngày Iao phu phải cắm 1 đến 3 cây nến để Đức mẹ Maria bảo vệ cho bản thân; phải đeo huy hiệu có tấm ảnh của Maria và cây thập giá bên người suốt đời.
- Iao phu mỗi năm phải đi cấm phòng tại nhà trường 1 lần. Khi nhận được thư gọi đi cấm phòng, Iao phu phải siêng cầu nguyện, chuẩn bị trước 8, 9 ngày. Trong lúc cấm phòng, Iao phu cố gắng suy nghĩ, kiểm điểm lại việc làm của bản thân mình trong thời gian qua theo gợi ý của cha cố. Sau khi ra khỏi cấm phòng, Iao phu viết cam đoan 2, 3 việc quan trọng nhất và viết 2 bản như nhau, một bản Iao phu giữ, 1 bản để dưới chân dung Đức mẹ Maria.
- Đối với cha mẹ: Iao phu phải kính trọng cha mẹ mình hơn người khác, nhưng tôn trọng Thiên chúa hơn cha mẹ. Khi được cha bề trên phân công đi truyền đạo nơi xa, cha mẹ ngăn cản thì cũng chỉ cho cha mẹ thấy rằng mình là con người Thiên chúa, là Iao phu nên phải đi truyền đạo. Khi cha mẹ có điều gì dạy bảo trái với tinh thần Thiên chúa, thì Iao phu cũng không được nghe theo. Nếu cha mẹ đau ốm, Iao phu phải thông báo cho cha cố biết để tìm những thức ăn ngon, khuyên nhủ ông bà chịu đựng những khó khăn - trong trường  hợp bệnh nặng thì phải chịu khó mời cha cố đến rửa tội cho bằng được.
- Đối với cha cố: Iao phu phải cầu nguyện xin Thiên chúa thương xót cha cố hằng ngày, thường đến thăm, báo cáo đầy đủ mọi vấn đề cho cha cố trong lúc xuống địa bàn truyền đạo, không được ở quá lâu sẽ ảnh hưởng đến công việc khác của cha, cũng không được lợi dụng khó khăn để xin đồ (như máy bơm, muối, tiền bạc...), nếu cha cố thương người thì tự cho và được lấy. Tới ngày lễ các thánh hoặc lễ bổn mạng của cha, Iao phu đừng quên về thăm, hay viết thư chúc mừng, nếu dẫn được nhiều người trong làng về thăm là tốt nhất.
- Đối với nhà trường: Phải giúp nhà trường với khả năng của bản thân. Khi ra trường, Iao phu phải đến thăm cha linh hồn, hoặc viết thư.
- Đối với các Iao phu: Phải quý trọng, đoàn kết, giúp đỡ nhau, làm mọi việc. Khi có Iao phu làng khác đến, thì phải mời Iao phu đó về nhà chơi theo kiểu người Ba na (và ngược lại). Nếu thấy Iao phu nào sống không giữ luật nghiêm cần phải khuyên nhủ, ân cần giúp đỡ người đó trở lại sống đạo cho tốt. Khi có người Iao phu chết, các Iao phu trong đoàn phải lần hạt hết 1 giáp trước mình thánh chúa và góp tiền lại để nhờ cha cố đưa cho ông lãnh đạo khối chuyển tới gia đình có người chết. Đồng thời, mỗi năm, lúc cấm phòng, cha bề trên sẽ làm lễ trọng 1 lần để mong muốn Đức chúa trời thương linh hồn tất cả những Iao phu đã chết.
- Đối với bạn bè và dân làng: Phải hiền lành, khiêm tốn, không tự cao tự đại, phải thường xuyên thăm người đau ốm, cho thuốc chữa bệnh, tìm cha cố cho người đó rửa tội. Trong làng, nếu mọi người cần làm việc thì Iao phu phải tham gia góp ý bàn bạc. Khi làng tổ chức uống rượu tập trung, Iao phu nên nên tham gia và cùng góp 1 ché rượu, ché rượu đó phải buộc gần ché rượu của già làng. Trong làng, Iao phu nếu muốn kết nghĩa anh em với ai phải xin phép cha cố đồng ý hay không đồng ý, nhưng với người không theo đạo nên cố tránh. Có 2 điều Iao phu không được làm là: Không được phép làm mai mối và không theo người trong làng đi đòi nợ, đòi phạt.
4. NHỮNG ĐIỀU IAO PHU PHẢI SỢ
          - Sợ sai lầm: Iao phu phải cố giữ cho bản thân không nên để mắc phải những sai lầm - dù đó là chuyện nhỏ nhất. Nếu có, hãy tìm cha đỡ đầu xưng tội, để được chỉ bảo, tinh thần không được hoang mang giao động và cũng đừng bảo là mình không xứng đáng với Đức Chúa trời. Vì khi buộc tội người nào đó là sai lầm, lúc chết, Iao phu sẽ bị xuống hoả ngục.
          - Sợ uống rượu: Khi trong làng tổ chức uống rượu, Iao phu không nên đi một mình tới, không được uống say, không nên uống theo "cang" và không ở đó quá lâu. Nếu làng uống rượu tại Nhà Rông thì Iao phu phải về nhà riêng ngũ, nếu uống rượu tại nhà riêng thì Iao phu lên Nhà Rông ngũ. Tuyệt đối không giúp người dân mổ trâu, mổ lợn, xách nước dùm để được uống rượu.
          ­- Sợ lãng mạn: Iao phu luôn có ý thức trong sạch, không làm theo những điều bậy bạ như các thanh niên hư hỏng khác, không đeo cườm nhiều, không mang khố dài, không đeo vòng tay có hạt, không đánh chiên suốt đêm, không nói tục... Iao phu đừng giận người dân khi họ nghe trường ca, kể chuyện xưa các ông đi đánh địa phương khác. Gặp phụ nữ, con gái, Iao phu không được nhìn họ lâu, không nên đi chơi với con gái đêm khuya hoặc xin thuốc con gái lúc đêm tối, hay lên ngũ chung với gia đình có người chết.
          Iao phu phải giữ Luật Iao phu cho tốt. Vì luật đó dạy cho người nhiều chuyện đúng, nhiều chuyện tốt đẹp thật đúng ý nghĩa của Thiên chúa. Iao phu mỗi tháng xem lại Luật 1 lần, mỗi năm đọc hết lại 1 lần. Nếu Iao phu giữ luật thật nghiêm thì luật sẽ giữ Iao phu vững vàng hơn.
5. ĐỜI SỐNG TƯ CỦA CÁC IAO PHU
          - Iao phu có quyền được lập gia đình như những tín đồ bình thường khác, nhưng không được lấy người lãng mạn hoặc có tư tưởng xấu và không nên lấy người ngoại đạo. Trước khi lấy vợ, Iao phu cầu nguyện xin Thiên chúa phù hộ cho tìm được người yêu. Muốn lấy ai, Iao phu phải hỏi ý kiến của cha linh hồn, bàn bạc với cha mẹ, họ hàng, nếu bị ngăn cản thì dừng lại. Khi tìm được người vừa ý, Iao phu trao hạt cầu nguyện bên ché rượu cho người con gái (hạt kỷ niệm đó đã được cha cố làm phép rửa hạt, không trao hạt buồn, mà trao hạt nhớ). Từ ngày tổ chức trao hạt đến ngày làm phép hôn phối, Iao phu phải ở ổn định, không được sống chung với nhau trước, trong thời gian đó 2 người phải siêng cầu nguyện trước mình thánh Chúa. Khi quyết định tổ chức lễ cưới, Iao phu phải báo cho cha mẹ, anh em, họ hàng biết cùng đến cầu nguyện trước bàn thờ. Trong lễ cưới, bạn bè, anh em đến chúc rượu mừng, Iao phu không nên từ chối, nhưng không được uống say.
- Iao phu phải giữ trọn tình yêu chung thuỷ với vợ, truyền đạo, giảng đạo cho vợ, nhắc nhở vợ siêng đi cầu nguyện và xưng tội. Tại nhà riêng, Iao phu phải có bàn thờ đẹp, để chân dung Maria và cắm hoa. Trong buồn ngũ vợ chồng, phải dành một chỗ đẹp để treo ảnh Jê su, Maria, Gui se và để một cái bàn viết.  Mỗi tối trước khi đi ngũ, mỗi sáng khi thức dậy hoặc đi ăn cơm, hai người cùng cầu nguyện chung trước các tấm ảnh đó. Trong trường hợp, người vợ có ý định ly dị thì Iao phu phải chấp nhận và phạt tiền người vợ theo đúng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc.
          - Khi có con, Iao phu đưa con đến cha cố rửa tội, nếu là trai mong ước con mình sẽ trở thành cha cố mai sau, nếu là gái ước con được làm bà xơ. Khi con biết nói, Iao phu phải truyền đạo cho con, bảo con làm phép dấu trước, sau đó tập cho con quen nói Jê su, Maria, Gui se và dạy những điều quan trọng hơn. Khi con được 7,8, tuổi, Iao phu bảo con nhanh xưng tội cho bản thân, dạy con đúng với ý thức tốt lành của Thiên chúa, nếu con lễ phép thì dạy dỗ bằng lời, nếu con hư hỏng thì đánh, nhưng không được đánh nặng.
- Nếu Iao phu chưa lập gia đình, khi đến truyền đạo làng khác, luôn ngũ một mình trên gường nhỏ dành cho 1 người. Trước khi đi ngũ, Iao phu phải vẩy nước lễ lên gường cầu nguyện xin Thiên chúa giữ gìn cho bản thân trong sạch.
- Iao phu phải thường xuyên xem sách để nâng cao kiến thức, phải giữ gìn sách cẩn thận, để sách trong rương, không cho trẻ con phá, không làm rách bìa hoặc xé rách. Sách người Iao phu phải siêng năng đọc hơn hết là sách về Jê su.
- Iao phu đi tắm luôn mặc khố hoặc quần, tắm xa chỗ con gái, không nên quấy rầy hoặc làm những điều bậy bạ, cảnh giác với người không theo đạo, không tắm chung với người có tư tưởng xấu.
          - Iao phu không được ăn những đồ ăn, thức uống đã cúng thần.
- Lúc bản thân đau ốm thì không được buồn, Iao phu phải nghĩ đến Jê su và siêng năng cầu nguyện. Nếu có người ngoại đạo tình nguyện đi tìm thầy phù thuỷ chữa bệnh thì Iao phu hãy từ chối, mà cho người đi tìm cha cố đến rửa tội. Trong trường hợp bệnh nặng, khó qua khỏi, Iao phu cầu nguyện xin cho được chết trong lòng bàn tay Đức chúa Jê su.
III. TRƯỜNG IAO PHU QUENOK VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁM MỤC PHƯỚC
Trường đào tạo Iao phu Quenok Kon Tum ra đời được gắn liền với tên tuổi của Giám mục Jannin Phước, người đầu tiên khởi xướng, lãnh đạo và điều hành trực tiếp hoạt động của Iao phu.
Sau sự việc cha bề trên Vialleton Truyền có sáng kiến dạy chữ quốc ngữ cho đồng bào thượng vào năm 1881 (mời thầy Hương ở Giáo phận Qui Nhơn lên sắp đặt các chương trình mở lớp) đã giúp các thanh thiếu niên dân tộc được học chữ, học giáo lý, mở mang kiến thức, hiểu biết về xã hội để phụ giúp các Linh mục truyền đạo (nhờ được học lớp này, một số thanh niên Ba na sau này trở thành các Iao phu tiên khởi xuất sắc làm Giáo sư dạy trường Quenok, trong đó có thầy Chơ Rong - cha ruột cuả Linh mục A Đen - Linh mục dân tộc đầu tiên ở giáo phận Kon Tum). Vậy, làm thế nào để tập hợp được các em - những người quen tính tự do, không thể cầm mình gò bó lâu trong khuôn khổ nhà trường có ngăn nắp, luật lệ mà không bỏ trốn về làng. Thực trạng này, cùng với những ưu tư trăn trở về đội ngũ những cộng sự viên người Ba na được đào tạo một cách nghiêm túc để phụ giúp các Linh mục và thay mặt Linh mục đi truyền đạo, cha Jannin Phước đã có cách khắc phục.
Qua kinh nghiệm Thầy giảng người dân tộc lưu động theo các cha truyền đạo, thành công đem lại  ngoài sự mong đợi, cùng với sự hỗ trợ nhiệt tình tích cực của các vị thừa sai, thầy giảng, sư huynh dòng Giuse, anh em giáo dân vùng lân cận, ngày 7/1/1908, Trường đào tạo Iao phu Quenok chính thức khởi công xây dựng, cha Jannin Phước được chỉ định làm Giám đốc (1908-1924). Trường Quenok toạ lạc tại một vùng đất rộng, bằng phẳng bên dòng sông Đăk Bla, gần nhà thờ Chánh toà Kon Tum, một tầng trệt với 2 lầu làm bằng gỗ, nhưng không đủ sức chứa hết tất cả mọi học sinh về học. Do vậy, Ban Giám đốc đã mở thêm 2 cơ sở dự bị tại Rơ Hai (nay là phường Lê Lợi thuộc Giáo xứ Chư Hreng) và Kon Tum để đáp ứng nhu cầu học tập của các Iao phu. Phụ giúp việc giảng dạy có 4 giáo viên, gồm các Thầy: Chơ Rong, Tam, Quyền, Vui và Ưng(10).
Buổi đầu, mỗi khoá là 2 năm, về sau lên đến 6 năm. "Phương pháp đào tạo Iao phu phần lớn theo cách đào tạo như thầy giảng người kinh. Tuy nhiên việc giáo dục chủ yếu thông qua kinh nghiệm thực tế vì tâm lý, tầm hiểu biết, lòng mộ đạo, hoàn cảnh sống ở mỗi vùng truyền giáo có sự đa dạng và khác biệt"(11). Chương trình học gồm: Giáo lý, mục vụ, các môn học thường thức, tạo chữ viết thống nhất cho các dân tộc, dạy họ học đọc, viết và làm các phép tính sơ đẳng. Ngoài ra, trường cũng đào tạo Iao phu tương lai theo những khả năng thích hợp để phục vụ cộng đoàn tín hữu như: Giáo lý, thánh ca và dạy cả môn y tế dân tộc. Cha Jannin Phước đã tổ chức biên soạn các sách:
- HLABAR PƠGIONG: Sách về các bài thuốc chữa bệnh dân gian, ấn hành năm 1932, để Iao phu áp dụng.
- HLABAR TƠBANG: Tạp chí để thông tin mọi sinh hoạt liên quan đến trường, đến giáo phận, thế giới, giáo hội và những tiểu sử các họ đạo, công cuộc truyền giáo của các vị thừa sai tại Kon Tum
HLABAR PƠDƠK: Sách dẫn giải giáo lý cho học viên học tập....
Phương pháp giáo dục của nhà trường rất sinh động, thích hợp với tâm lý trẻ dân tộc, các học sinh thường xuyên được đi điền dã thực tế, tham quan các xứ đạo, được các cha ân cần đón tiếp... Các em cảm thấy gần gũi, được dân làng ngưỡng mộ mong chờ ngày kia khi ra trường các em sẽ đến với họ. Ngoài ra, nhà trường cũng thường tổ chức diễn tuồng nói về đức hạnh các thánh, Chúa Jê su giáng sinh để các em học tập thông qua hình ảnh trực quan sinh động dễ tiếp thu, dễ nhớ...
Khoá học đầu tiên có 73 học sinh tham dự. Năm 1911, có thêm 12 trẻ Ba na vào học. Năm 1916, số Iao phu được 69 người. Năm 1922, có 78 học sinh. Năm 1929, có 99 học sinh. Đến năm 1933, sau 25 năm thành lập, trường đã đào tạo được 180 Iao phu và 95 em đang theo học(13).
Trong thời gian biến động của cuộc chiến tranh thế giới thứ II, quân Nhật với hơn 300 lính tiến đến Kon Tum tiếp quản, trưng dụng tất cá các kiều dân Pháp. Đức cha SION Khâm và các Linh mục Thừa sai bị quản thúc tại Chủng viện rồi bị áp giải về Nha Trang, việc điều hành các cơ sở tôn giáo tại Kon Tum bị xáo trộn, trong đó có trường Quenok, nên trường tạm thời bị giải tán. Trong bối cảnh này, nhiều Iao phu vẫn giữ được đời sống đạo của mình, nhưng vẫn có một số bị biến chất không làm tròn trách nhiệm. Đến khi Nhật đầu hành đồng minh, an ninh ổn định, cha LEGER (tên Việt là Lễ) được bổ nhiệm làm quản lý giáo phận kiêm nhiệm Bề trên Giám đốc trường Quenok và cha Nguyễn Đắc Cẩn tạm thời phụ trách trường trong thời gian các cha bị bắt. Do vậy, trường Quenok lại tiếp tục công việc đào tạo Iao phu của mình. Năm 1973, trường Quenok được chính quyền đương thời cho phép cấp chứng chỉ các lớp đệ nhất cấp. Học sinh đạt trình độ đệ nhất cấp được phép tiếp tục học và thi lấy bằng tú tài II hoặc lên Đại học. Sau giải phóng năm 1975, cơ sở Trường Quenok không còn hoạt động.
 IV. VAI TRÒ CỦA BOL IAO PHU TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO
            1. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA BOL IAO PHU
          Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, Bol Iao phu ra đời để hoạt động truyền giáo có nhiều lợi thế là:
          - Iao phu là người dân tộc, nói được tiếng dân tộc, quen với môi trường sống và có thể biết được phong tục tập quán, ngôn ngữ của các dân tộc khác.
          - Có số lượng đông, hoạt động theo đoàn nên tạo được khối sức mạnh thống nhất từ trong nội bộ.
          - Có tổ chức chặt chẽ, tuân thủ giáo luật nghiêm và tinh thần vâng phục bề trên tuyệt đối.
          - Có trình độ, uy tín, đạo hạnh tốt và biết cách chữa bệnh cứu giúp dân làng.
Do vậy, khi được phân công đến địa bàn nào, Iao phu dễ dàng vượt qua được những rào cản, định kiến về chủng tộc, tôn giáo, phong tục tập quán truyền thống... để hoà nhập và truyền đạo. (Điều này, đối với chức sắc cao cấp, nhất là đối với các vị thừa sai khó có thể thực hiện được).
Đặc biệt, trong những năm giáo phận gặp khó khăn vì thời cuộc, các Linh mục buộc phải xa lìa địa sở, nhiều họ đạo phải di tản hoặc phân tán, thì ta càng thấy rõ vai trò của các Thầy, các chú Iao phu quan trọng đến chừng nào.
          Tổng kết thành quả sau 133 năm truyền giáo (tính thời điểm năm 1842 và đến năm 1975), chúng tôi xin nêu lên một vài số liệu minh hoạ:
          - Từ năm 1842 đến 1852: 10 năm nhưng chỉ có 1 người theo đạo
          - Đến năm 1945 có 21.000 tín đồ với 22 địa sở, 180 họ đạo, 121 nhà thờ, 27 Linh mục coi sóc
          - Đến năm 1970: có 36.267 tín đồ dân tộc, 42.418 tín đồ người kinh, với 47 địa sở, 212 họ đạo và hơn 5.000 tín đồ dự tòng.


          - Đến năm 1975: Đạo Công giáo đã có được khoảng 45.000 tín đồ(14).
          Như vậy, qua đánh giá về tình hình trên, chúng tôi cho rằng:
1. Bol Iao phu là tổ chức truyền đạo thành công nhất, phù hợp với đặc điểm tâm lý người đồng bào dân tộc ở giáo phận Kon Tum
2. Iao phu là cầu nối giữa giáo hội với giáo dân. Ngoài bổn phận truyền đạo, Iao phu có nhiệm vụ giúp Linh mục trong các hoạt động mục vụ, làm "thông dịch", "hướng dẫn viên" cho cha cố xuống thăm các địa sở, xứ họ đạo nơi xa được thuận lợi
          3. Hoạt động của Bol Iao phu góp phần nâng cao vị thế của giáo hội, thể hiện như sau:
- Iao phu có vai trò lớn trong với việc vận động người dân bỏ các tập tục lạc hậu, tệ nạn mê tín dị đoan, đưa văn minh Công giáo đến với đồng bào dân tộc
          - Làm tốt công tác hoà giải, góp phần hạn chế được sự xung đột giữa các làng, giữa các dân tộc.
          - Hướng dẫn giáo dân biết cách sản xuất, chăn nuôi, chăm lo làm ăn, khắc phục được tình trạng đói nghèo
            2. IAO PHU TRONG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO HIỆN NAY
          Sau giải phóng năm 1975, tình hình chính trị ở Việt Nam đã có sự thay đổi căn bản. Chế độ xã hội mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã có những chính sách mới tạo điều kiện cho chức sắc, giáo dân tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, sống "tốt đạo, đẹp đời", "sống phúc âm trong lòng dân tộc"...
          Đồng thời cũng sau năm 1975, cơ sở trường đào tạo Quenok được giáo hội hiến tặng cho chính quyền để sử dụng làm Trường Cao đẳng sư phạm Kon Tum. Cho nên, việc đào tạo đội ngũ Iao phu chính quy như trước không còn. Song, Toà Giám mục và các cha xứ vẫn lựa chọn số giáo dân cốt cán để đào tạo làm Iao phu. Theo số liệu thống kế, hiện nay, toàn giáo phận có gần 1.000 Iao phu, trong đó ở Kon Tum khoảng hơn 700 người, Gia Lai gần 300 người.
          Nội dung, chương trình học của các Iao phu hiện nay có phần đơn giản hơn, do Linh mục phụ trách xứ trực tiếp  giảng dạy, không cấp bằng hoặc chứng chỉ. Thời gian học cũng ngắn hơn tuỳ vào sự tiếp thu của mỗi người. Số lượng đào tạo căn cứ vào nhu cầu thực tế, nhưng ít nhất mỗi làng đều có 1 người. Sau mỗi khoá học, cha xứ dẫn người đó về làng giới thiệu với giáo dân để có cơ sở pháp lý cho người Iao phu thực hiện trách nhiệm của mình.
          Hiện nay, do tình hình có sự thay đổi, Iao phu không còn biệt phái đi các làng khác truyền đạo nữa, nên vai trò, vị trí bị thu hẹp. Nhiệm vụ chính của Iao phu lúc này là phục vụ tại họ đạo, dạy giáo lý, nhắc nhở tín đồ sống đạo cho tốt, làm công việc hoà giải và là đầu mối liên lạc với Linh mục phụ trách.



























THAY LỜI KẾT


          Đã qua hơn 150 năm có mặt tại Tây nguyên, đạo Công giáo từng bước tạo dựng được ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tinh thần người dân. Quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan ở một bộ phận quần chúng đã có sự xáo trộn, tuy mức độ mỗi nơi có khác nhau, nhưng phổ biến chung là xu thế tiếp nhận, kết hợp có chọn lọc giữa văn minh phương tây (Công giáo) với văn hoá truyền thống để tạo nên một hình ảnh Công giáo mới đặc trưng cho vùng đồng bào dân tộc. Bol Iao phu ra đời âu đó cũng là một quy luật tự nhiên trong quá trình thích nghi và hội nhập.
Là một tổ chức truyền giáo của giáo hội Công giáo ở giáo phận Kon Tum, nhưng Bol Iao phu mang đậm nét "văn hoá dân tộc" và truyền đạo thành công nhất.
Mặc dù, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những thể chế chính trị khác nhau, vị thế, vai trò của giáo hội có lúc thăng trầm, nhưng Iao phu vẫn là Iao phu, không hề bị biến chất, thay đổi. Chính nhờ những con người này - Iao phu, mà đời sống đạo của giáo dân ở giáo phận Kon Tum vẫn sâu sắc, không phai nhạt.
Ngày nay, tuy giữa quá khứ và hiện tại, giữa đạo với đời có những vấn đề vừa đan xen hoà đồng, vừa dị biệt, nhưng mục tiêu chung: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là cái đích cuối cùng để Công giáo và dân tộc phấn đấu thực hiện không thể phủ nhận được, và cũng không ai có thể nhân danh một thế lực nào để tách một bộ phận đồng bào có đạo Công giáo nói riêng, đồng bào các tôn giáo nói chung ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam.

         
--------







TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Linh mục Nguyễn Hoàng Sơn - Trường Queknok, sáng kiến độc đáo - Tổ chức Thầy giảng vùng truyền giáo Tây nguyên - Giáo phận Kon Tum, năm 1998
2. Lịch sử truyền giáo giáo phận Kon Tum - Tài liệu đánh máy, năm 1970
3. Linh mục Dourisboure - Dân làng hồ - Sài Gòn, năm 1972
4. Linh mục Bùi Đức Sinh - Lịch sử Giáo hội Công giáo, Nhà xuất bản Chân lý, Sài Gòn, năm 1972
5. Võ Chuẩn - Kon Tum tỉnh chí - năm 1932
6. Ban Tôn giáo Chính phủ - Một số tôn giáo ở Việt Nam
7. Các tài liệu thống kê, lưu trữ của Toà Giám mục Kon Tum.
8. Luật Giáo phu in bằng tiếng Ba na của Toà Giám mục, năm 1961
9. Niên giám Công giáo Việt Nam - Tủ sách Công giáo, Sài Gòn, năm 1964.


-----------








(1) Võ Chuẩn - Kon Tum tỉnh chí, in năm 1933, trang 538
(2)  Linh mục Dourisboure -  Dân làng hồ - nhà xuất bản Sài Gòn, năm 1972, trang 78

(3) Linh mục Bùi Đức Sinh -Lịch sử Giáo hội Công giáo, Nhà xuất bản Chân lý, Sài Gòn, năm 1972, phần nhì, trang 327
(4) Linh mục Nguyễn Hoàng Sơn - Trường Cuenot, sáng kiến độc đáo - Tổ chức thầy giảng vùng truyền giáo Tây nguyên, tài liệu đánh máy, Giáo phận Kon Tum, năm 1998, trang 2

(5) Chẳng hạn như: Giám mục Pallu - Giám mục Đàng ngoài, năm 1669 đã gởi thư cho Bộ trưởng Hải quân Pháp Lambert, yêu cầu đem quân sang xâm chiếm vùng sông Hồng. Phó Giám mục Lefebvre, người thường xuyên liên lạc với các tàu chiến của quân đội Pháp và đã dẫn dắt họ tới những hành động bạo lực những năm 40, 50 của thế kỷ 19...
(6) Trong 3 đời vua Triều Nguyễn: Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức có tất cả 14 Chỉ dụ cấm đạo. Cụ thể: Minh Mệnh có 5 sắc chỉ, Thiệu Trị có 2 sắc chỉ, Tự Đức có 7 sắc chỉ. Bên cạnh các hoạt động cấm đạo, còn có phong trào "Bình tây sát tả" do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo, bắt đầu từ năm 1962, khi Triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp, kéo dài đến năm 1888.

(7) Định mức chung mà ai cũng phải thực hiện của người dân tộc Tây nguyên khi uống rượu cần với nhau
(8) Có thể hiểu đó là Sổ Công tác

(9) Niên giám Công giáo Việt nam - Tủ sách Công giáo, Sài Gòn, năm 1964, trang 361

(10) Toà Giám mục Kon Tum - Lịch sự truyền giáo giáo phận Kon Tum - năm 1970, trang 15
(11) Linh mục Nguyễn Hoàng Sơn - sách đã dẫn, trang 34
(13) Toà Giám mục Kon Tum - Lịch sự truyền giáo giáo phận Kon Tum - năm 1970, trang 15

(14) Tham khảo số liệu của Toà Giám mục Kon Tum

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét